Gọi bao nhiêu và dùng vào việc gì
Nên gọi bao nhiêu, và tiêu vào việc gì?
Công cụ này giúp gì?
Sai lầm phổ biến nhất khi gọi vốn lần đầu là lấy mức đốt tiền hiện tại nhân với 18 tháng. Nhưng tiền gọi về chính là để tăng chi (tuyển người, đẩy bán hàng), nên con số đó luôn thiếu. Công cụ này mô phỏng từng tháng có tính đà tăng chi phí, rồi cộng dồn.
Dùng công cụ này khi nào
- Trước khi ghi con số gọi vốn vào pitch deck: nhà đầu tư sẽ hỏi con số đó từ đâu ra và đủ dùng tới cột mốc nào.
- Khi đã biết runway và muốn biết cần thêm bao nhiêu để đi hết 18 tháng tới cột mốc tiếp theo.
- Khi lập kế hoạch sử dụng vốn: chia số tiền gọi theo hạng mục để trả lời câu hỏi tiền sẽ đi đâu.
Cách tính
Mỗi tháng: chi tăng theo % bạn đặt (mặc định 4%), thu tăng theo % bạn đặt
Đốt ròng tháng t = Chi tháng t − Thu tháng t
Tổng đốt ròng N tháng = Cộng dồn đốt ròng từ tháng 1 tới tháng N
Còn thiếu = Tổng đốt ròng N tháng − Tiền mặt hiện có
Dự phòng = Còn thiếu × % dự phòng (mặc định 15%)
Nên gọi = Còn thiếu + Dự phòng, làm tròn lên bội số 500 triệu
Pha loãng = Số nên gọi ÷ (Định giá pre-money + Số nên gọi)
Cách tính đơn giản nhất là lấy mức đốt tiền hiện tại nhân số tháng, nhưng nó luôn ra thiếu: tiền gọi về chính là để tuyển thêm người, chạy thêm marketing, nên chi phí sẽ tăng dần theo tháng. Công cụ mô phỏng từng tháng với mức tăng chi bạn đặt, cộng dồn đốt ròng, trừ tiền đang có, rồi cộng thêm khoản dự phòng cho những việc chậm hơn kế hoạch. Số tháng mục tiêu nên đủ để đạt cột mốc đủ thuyết phục cho vòng sau, thường 18 tháng ở giai đoạn pre-seed. Nếu nhập định giá pre-money, công cụ tính luôn mức pha loãng; thông lệ một vòng nằm khoảng 10% đến 25%. Phần kế hoạch sử dụng vốn chia số tiền theo hạng mục, tổng phải đủ 100%.
Thuật ngữ trong công cụ
Vòng pre-seedpre-seed round
Vòng gọi vốn đầu tiên có tổ chức, thường khi đã có sản phẩm chạy được nhưng chưa có doanh thu đáng kể.
Vòng seedseed round
Vòng sau pre-seed, thường khi đã có bằng chứng thị trường và bắt đầu có doanh thu.
Runway
Số tháng công ty còn hoạt động được với lượng tiền hiện có.
Pha loãng cổ phầndilution
Tỷ lệ sở hữu của bạn giảm xuống khi công ty phát hành thêm cổ phần cho người mới.
Pre-money và post-money
Giá trị công ty ngay trước và ngay sau khi tiền đầu tư vào; chênh nhau đúng bằng số tiền gọi được.
Gọi bao nhiêu là hợp lýraise size
Cách tính số tiền cần gọi từ mức đốt tiền và cột mốc muốn đạt.
Xem thêm 9 thuật ngữ
Mức đốt tiềnburn rate
Số tiền công ty chi ra mỗi tháng; đốt ròng là phần còn lại sau khi trừ doanh thu.
Mô hình tài chínhfinancial model
Bảng dự báo doanh thu, chi phí và dòng tiền theo từng tháng.
Vòng cầu nốibridge round
Khoản vốn nhỏ để duy trì hoạt động tới vòng gọi vốn chính thức tiếp theo.
Kế hoạch sử dụng vốnuse of funds
Bảng phân bổ số tiền gọi được theo từng hạng mục và kết quả tương ứng.
Cột mốc giữa hai vòngmilestone
Kết quả cụ thể cần đạt để vòng sau có cơ sở định giá cao hơn.
Điểm hoà vốnbreak-even point
Thời điểm lãi gộp đủ bù chi phí, công ty không còn đốt tiền.
Tài trợ không hoàn lạigrant
Khoản tiền cấp cho doanh nghiệp không lấy cổ phần và không đòi trả lại, đổi lại phải dùng đúng mục đích.
Đóng vòngclosing
Thời điểm ký xong giấy tờ và tiền thực sự về tài khoản công ty.
EBITDA
Lợi nhuận trước lãi vay, thuế và khấu hao: hoạt động kinh doanh cốt lõi tạo ra bao nhiêu.
XONG TRẠM 1, SANG TRẠM 2/5: DOANH NGHIỆP BẰNG CON SỐ
Việc tiếp theo: soát giả định về giá, chi phí và giữ chân khách
Chuẩn bị: Giá bán, chi phí để có một khách, tỷ lệ khách quay lại. Ước tính cũng được.
Hoặc: Xem cả Trạm 2 hoặc Bản nháp và checklist của tôi
Câu hỏi thường gặp
Nên gọi đủ cho bao nhiêu tháng?
Thông lệ là 18 tháng: đủ để đạt một cột mốc đáng kể, cộng thêm 3–6 tháng để chạy vòng tiếp theo. Dưới 12 tháng là bạn sẽ phải quay lại gọi vốn gần như ngay sau khi đóng vòng này.
Gọi nhiều hơn để chắc ăn có được không?
Gọi nhiều thì pha loãng nhiều. Thông lệ vòng đầu là bán 10–25% công ty. Trên mức đó, các vòng sau sẽ chật chội và nhà đầu tư vòng sau sẽ lo người sáng lập không còn đủ động lực.
Dự phòng bao nhiêu là hợp lý?
15–20%. Kế hoạch nào cũng trượt, và nhà đầu tư coi khoản dự phòng là dấu hiệu bạn hiểu rủi ro chứ không phải dấu hiệu thiếu tự tin.